Voyages Saigon, Inc.
     Café Espresso
   Salade Espresso
           salade espresso

 

 

Năm 2004, sau khi đi du-lịch Trung Quốc với Voyages Saigon Inc. về, Trần B́nh Nam đă viết bài “Trung Quốc: đất nước, con người” và dành đăng đầu tiên trên trang SALADE EsPRESSO.
Lần này, Trần B́nh Nam trở lại trên trang SALADE EsPRESSO với bài viết “Liên Bang Nga dưới mắt một du khách Việt”, sau chuyến du-lịch thăm Nga và ba nước Bắc Âu (Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch) cũng do Voyages Saigon Inc. tổ chức vào 2 tuần đầu của tháng 9 năm 2008. Lần này, rơ ràng hơn, tác giả viết bút kư du-lịch theo cách viết sở trường của ông: pha với b́nh luận thời cuộc.
Trong suốt chuyến Nga du, Trần B́nh Nam rất chú ư đến lịch sử của nước Nga, đặc biệt lịch sử của Đế chế Romanov – một trong những nhà nước đế quốc hùng mạnh nhất ở Châu Âu trong hai thế kỷ thứ 18 và 19 – và lịch sử của Đế quốc Xô-Viết, mà sự tồn tại cùng những thành tựu cũng như những tác hại của nó trên nước Nga kéo dài gần trọn thế kỷ thứ 20. Ngoài ra, như lời ông nói: “tôi rơi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác trước cái kho tàng văn hóa đồ sộ và vô giá mà nước Nga đang cất giữ trong ḷng nó, không chỉ riêng cho người Nga, mà c̣n cho cả Châu Âu và nhân loại…” (cũng như ông, trước khi đến thăm Liên Bang Nga, không ít du khách chỉ chú ư đến sự kiện rằng đất nước này hiện cất giữ kho vũ khí hạt nhân lớn thứ nh́ thế giới sau Hoa Kỳ!). Với con mắt của một nhà b́nh luận thời cuộc, tác giả dựa trên di sản văn hóa và những bài học lịch sử của nước Nga để phân tích t́nh h́nh chính trị hiện nay ở Liên Bang Nga và đưa ra một số kết luận của riêng ông.
Xin cảm ơn Trần B́nh Nam và xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả bài viết “Liên Bang Nga dưới mắt một du khách Việt”
.
SALADE EsPRESSO.
(California, Feb 01, 2010)

[Những ảnh đăng trong bài này: ảnh thứ hai của Lư David Đại, một thành viên trong đoàn du-lịch Nga và Bắc Âu năm 2008; Những ảnh c̣n lại của Voyages Saigon Inc. hoặc ảnh tư liệu mà chúng tôi được phép sử dụng. Một số chi tiết hoặc ư kiến đóng góp (vào nội dung bài viết của TBN) là của Trần Chính, người đă hướng dẫn tour Nga và Bắc Âu năm 2008]


LIÊN BANG NGA DƯỚI MẮT MỘT KHÁCH DU-LỊCH VIỆT NAM

Chúng tôi trở về Hoa Kỳ khi gió thu vừa tới. Nam California trở lạnh làm tôi nhớ một câu trong một bài hát nào đó của nhạc sĩ Văn Cao “chỉ cần nghe gió biết thu sang”. Đúng là thu đă sang. Mùa thu sang trong thời gian tháng 9 chúng tôi du lịch Liên Bang Nga, Phần Lan, Thụy Điển và Đan Mạch. Khí trời Bắc Âu trở lạnh với chút mưa phùn trong gió. Gió mang chất lạnh giữa bầu trời của thủ đô Moscow vẫn c̣n nắng vàng le lói.
Ba mươi bốn khách du lịch chúng tôi trải qua 14 ngày trong gió thu trên máy bay, đường bộ, du thuyền cruise, và tàu phà vượt biển cùng với ông Trần Chính, người trưởng đoàn (tour leader) đồng thời là người hướng dẫn chính của chuyến du lịch. Tại mỗi nước có thêm một người hướng dẫn bản xứ để cùng với ông Trần Chính giới thiệu đến chúng tôi quê hương xinh đẹp của họ. Họ dùng tiếng Anh chuẩn xác, vừa đủ, giữ đúng lịch tŕnh tour để không ǵ thiếu không ǵ thừa.

Nói chuyện với đoàn du-lịch trước mộ bà Raisa Gorbacheva trong tu viện Novodevichy (Moscow)

Chúng tôi được hưởng cái hiểu biết phong phú của ông Trần Chính, nhất là về lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật (bao gồm cả hội họa và âm nhạc của ông). Ông có thể say sưa nói đến tôn giáo và nghệ thuật trước một ngôi giáo đường, trước một bức tranh trong Viện bảo tàng, hay trước ngôi mộ của một nghệ sĩ đôi khi quên cả th́ giờ. Hiểu biết của ông Trần Chính bao gồm hiểu biết trong sách vở cộng với những chi tiết trong các tác phẩm hoa mỹ chung quanh vấn đề ông đang tŕnh bày làm cho những ǵ ông thuật với khách du lịch đi từ thật đến ảo, từ sự kiện lịch sử đến dă sử lẫn lộn một cách nhuần nhuyễn với nhau. Ông Trần Chính có một lối kể chuyện hấp dẫn được tuôn ra một cách tự nhiên, cuốn hút, làm người nghe say mê không c̣n phân biệt đâu là ranh giới giữa thực tế lịch sử và huyền thoại hay giai thoại. Ông Trần Chính đối với khách du lịch như một vị giáo sư hướng dẫn sinh viên làm luận án. Những ǵ ông nói gợi ra trăm con đường đưa người nghe vào những lĩnh vực yêu thích và có thể dùng nó làm căn bản để nghiên cứu rộng thêm.
Từ Los Angeles chuyến bay của hăng hàng không Scandinavian (SAS) đưa chúng tôi đến thủ đô Copenhagen của Đan Mạch, đổi qua một máy bay SAS khác đi Moscow, thủ đô Liên bang Nga. Về đêm, Moscow không nhiều đèn như Bắc Kinh, nhưng cảnh trí đồ sộ với những công tŕnh xây cất vĩ đại đập vào mắt du khách. Moscow là thủ đô của nước Nga từ năm 1480, trung tâm điểm là Công trường Đỏ (Red Square) h́nh thang nằm trước một khu hành chánh có tường thành bằng gạch đỏ bao quanh gọi là điện Kremlin. H́nh ảnh đặc thù của điện Kremlin là những chóp h́nh củ hành thếp vàng của các nhà thờ Chính thống giáo (Orthodox Church) vươn thẳng lên bầu trời. Nhà thờ là trung tâm sinh hoạt tinh thần của các vua chúa Nga thời phong kiến.

Thành Kremlin bên sông Moskva, trái tim của nước Nga

MỘT VÀI NÉT LỊCH SỬ
Sử ghi rằng trong hai thế kỷ thứ 8 và 9, nhiều giống dân gốc tích khác nhau đă di dân đến nước Nga và lập thành những vương quốc (hay quận quốc) nhỏ và độc lập. Trung tâm hành chánh của những quận quốc này được bao bọc bởi một bức tường thành, gọi chung là thành kremlin. Đây là thời kỳ phân liệt trong lịch sử phong kiến của nước Nga, với Kiev và Novgorod là hai quận quốc hùng mạnh nhất kiểm soát con đường thông thương từ Vịnh Baltic ở Bắc Âu xuống đến tận Biển Đen thuộc Đế quốc La-Mă phương Đông (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Vào thế kỷ thứ 10, Ki-tô giáo thuộc Giáo hội Chính thống phương Đông du nhập vào nước Nga. Đầu thế kỷ thứ 12, những đội quân viễn chinh Mông Cổ tiến vào nước Nga từ phía nam, mở đầu cho sự thống trị của họ kéo dài 250 năm. Các vị Hăn Mông Cổ chỉ định các quận vương Nga, kiểm soát quyền chính trị của họ và thu thuế trên đất đai, nhưng vẫn cho các quận quốc được tự trị và được giữ tôn giáo của ḿnh là Chính thống giáo. Dần dần các quận quốc này thôn tính lẫn nhau, đưa đến khuynh hướng thống nhất quốc gia, trong khi sự thống trị của người Mông Cổ suy yếu dần cho đến khi chấm dứt hẳn. Giữa thế kỷ thứ 16, Nga hoàng Ivan thứ IV (c̣n gọi là Ivan Bạo Chúa) hoàn thành việc thống nhất quốc gia, lấy Moscow làm trung tâm chính trị, tạo điều kiện cho gịng họ Romanov lên cầm quyền vào đầu thế kỷ thứ 17. Chính gịng họ này, với Peter Đại Đế (1672-1725), đă biến nước Nga thành một Đế quốc hùng mạnh ở Châu Âu vào đầu thế kỷ thứ 18.
Triều đại Romanov gồm 16 đời vua và nữ hoàng, kéo dài 304 năm. Trong số đó có những bậc anh quân lỗi lạc đă đóng góp phần tích cực của họ làm cho nước Nga mang khuôn mặt của một cường quốc ở Châu Âu vào lúc nổ ra cuộc Cách mạng Bolshevik năm 1917.
Mikhail Romanov (1613-1645) là Nga hoàng đầu tiên của vương triều Romanov; Peter I, c̣n gọi Peter Đại Đế (1682-1725) là Nga hoàng đă mở cửa và canh tân đất nước, biến nước Nga từ một quốc gia lạc hậu bị khinh thường ở Châu Âu thành một Đế quốc hùng mạnh; Catherine II (1762-1796), gốc người Đức, là nữ Hoàng đế đă tiếp tục sự nghiệp của Peter Đại Đế và mở rộng nhất cương thổ của Đế quốc Nga vào nửa cuối thế kỷ thứ 18; Alexander I (1801-1825) là Nga hoàng đă đánh bại cuộc chiến tranh xâm lăng của Napoleon Bonaparte; Alexander II (1855-1881) là vị Hoàng đế có khuynh hướng dân chủ đă băi bỏ chế độ nô lệ và giải pḥng giới nông nô ở nước Nga vào nửa cuối thế kỷ thứ 19; Và Nicolas II (1894-1917) là Nga hoàng cuối cùng với nhiều chính sách cai trị sai lầm và độc đoán đă góp phần dẫn đến sự bùng nổ của cuộc Cách Mạng Cộng sản vào năm 1917, mà chính ông và gia đ́nh là nạn nhân bi thảm nhất (họ bị những người Cộng sản hành quyết năm 1918 và thủ tiêu xác trong khu rừng gần Yekaterinburg). Nga Hoàng Nicolas II và toàn gia đă được cải táng dưới thời Tổng thống Boris Yeltsin và hiện nay yên nghỉ trong Nhà thờ Peter và Paul tại St. Petersburg.

[Năm 1918, Nga hoàng Nicolas II cùng gia đ́nh và một số người hầu cận bị chính quyền Cách mạng của Lenin đưa từ St Petersburg về giam giữ ở Yekaterinburg, một thành phố nằm ở phía đông dăy núi Ural. Đây là nhà tù thứ ba của họ, một biệt thự nhỏ mang tên “ngôi nhà Ipatiev”, nơi họ bị giam giữ hơn hai tháng trước khi bị hành quyết một cách vội vă theo lệnh của Lenin. Vào năm 1977, Boris Yeltsin (vị tổng thống dân chủ đầu tiên của Liên Bang Nga), lúc bấy giờ c̣n là một đảng viên Cộng sản ở cương vị bí thư thị ủy của thành phố Sverdlovsk (tên của Yekaterinburg vào thời Xô-Viết), đă ra lệnh phá hủy hoàn toàn ngôi nhà Ipatiev với ư định xóa bỏ vĩnh viễn dấu vết tội ác của những người Cộng sản Bolshevik.]

Nicolas đệ II, vị Hoàng đế cuối cùng của nước Nga, cùng Đế hậu Alexandra và các con

Peter Đại Đế trong 43 năm cầm quyền đă hiện đại hóa quân đội, nhất là xây dựng một hải quân hùng mạnh, du nhập khoa học kỹ thuật từ Châu Âu, đánh chiếm Thụy Điển và năm 1703 cho khởi công xây dựng thành phố St. Petersburg làm cửa sổ hướng về Châu Âu. Ông đă khống chế giáo quyền Chính thống giáo nhằm biến tôn giáo thành công cụ phục vụ quốc gia và vương triều.
Năm 1713 Peter Đại Đế dời đô từ Moscow đến St. Petersburg và tiếp tục huy động toàn bộ nhân lực và tài lực quốc gia vào chương tŕnh canh tân đất nước khiến cho công quỹ cạn kiệt và gây nhiều tổn thất về nhân mạng. Một số cận thần, trong đó có cả Thái tử Alexei, ra mặt chống đối, và Peter đă cho hành quyết Alexei sau khi không thuyết phục được con trai ḿnh.

[Đến thăm St Petersburg, du khách thường được giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của Peter Đại Đế, người đă canh tân nước Nga và xây dựng kinh đô mới mang tên ông vào đầu thế kỷ thứ 18. Người Nga xem ông là một anh hùng dân tộc. Nhưng đối với nhiều người, việc ông ra lệnh hành quyết Thái tử Alexei, con trai duy nhất của ḿnh, là khó biện minh về mặt đạo lư (ngay cả Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, ông hoàng đế tàn bạo hiếm có trong lịch sử Trung Quốc, vốn xem mạng sống con người như cỏ rác, có lần tuy rất giận Thái tử Chu Tiêu v́ những lời xúc phạm nhưng cũng không nỡ giết con trai ḿnh). Tuy nhiên muốn hiểu rơ tính cách của Peter Đại Đế, chúng ta phải đặt ông vào bối cảnh của nước Nga lúc bấy giờ, là một quốc gia yếu kém về chính trị và quân sự, lạc hậu về nhiều mặt, và bị khinh thường ở Châu Âu. Peter có quyết tâm đưa nước Nga thoát ra khỏi t́nh trạng đó để trở thành một cường quốc ở Châu Âu, bởi v́ hơn ai hết ông biết rơ khả năng và tiềm lực của dân tộc Nga. Do đó ông không thể dung thứ cho bất cứ ai cản trở hoặc chống lại chương tŕnh canh tân mà ông cương quyết thực hiện bằng mọi giá, kể cả cái giá của chiến tranh khi cần thiết. Hơn nữa, việc Alexei bỏ trốn sang triều đ́nh Hapsburg ở Vienna và khẩn nài sự che chở của Charles VI, Hoàng đế Áo, bị chẳng những Peter mà cả triều đ́nh Nga xem như một hành động phản bội, và hơn nữa một việc làm xúc phạm đến quốc sỉ (Trần B́nh Nam có lư ở điểm: tự ái dân tộc của người Nga rất to!). V́ thế mà dưới con mắt xét đoán của người Nga, việc Peter Đại Đế giết Thái tử Alexei là hoàn toàn có thể hiểu được. Hơn nữa, bởi v́ người Nga muốn h́nh ảnh vị Hoàng đế vĩ đại của họ được mô tả không t́ vết, họ sẵn sàng bỏ qua một khía cạnh quan trọng trong nhân cách chính trị của ông: Peter Đại Đế là một nhà cai trị độc tài, không khoan nhượng đối với những kẻ thù chính trị của ông, một bạo chúa như tất cả các bạo chúa đến trước và sau ông trong lịch sử nước Nga.]

St Petersburg có nhiều kênh đào nối với sông Neva, nên được gọi là "Venise của phương Bắc"

Catherine II, c̣n được gọi là Catherine Đại Đế, xuất thân từ gịng dơi quư tộc Đức, là vợ của Nga hoàng Peter III. Peter III là ông vua tầm thường, nhiễm giáo dục của Đức, không ưa văn hóa và lối sống Nga nên không dành được cảm t́nh và sự ủng hộ của giới sĩ quan cao cấp và đội Cấm vệ ngay từ khi ông mới lên ngôi. Catherine II đă cùng với Công tước Grigori Orlov, t́nh nhân của bà, và giới sĩ quan trung thành làm đảo chánh lật đổ Peter III để đưa bà lên ngôi nữ hoàng.
Nữ hoàng Catherine II có một ư thức chính trị tinh tế, và trong suốt 34 năm cầm quyền bà luôn dành mọi ưu tiên phục vụ quyền lợi nước Nga. Vốn xuất thân là một công chúa người Đức, nhưng khi về làm dâu nước Nga bà sống và hành xử như một người Nga để xóa bỏ dấu vết Đức của ḿnh, do đó bà rất được ḷng dân chúng Nga. Tuy vậy, biết nước Nga cần đến văn hóa Âu Châu để phát triển, bà đă tiếp tục con đường Âu hóa mà Peter Đại Đế làm dở dang, nhất là du nhập văn hóa Đức và Pháp. Bà thiết lập một Nhà nước Pháp quyền, t́m cách áp dụng các tư tưởng dân chủ của Voltaire, Diderot, Montesquieu vào đời sống chính trị của nước Nga. Bà khuyếch trương giáo dục đại học và khuyến khích cũng như bảo trợ các sinh hoạt văn học nghệ thuật.
Tiếp tục chương tŕnh xây dựng và làm đẹp kinh đô St. Petersburg của Peter Đại Đế, Catherine II đă biến St. Petersburg thành một kinh thành hoa lệ mang đậm tính cách Nga với phong cách kiến trúc lộng lẫy, kỳ thú và cả một kho tàng đồ sộ về văn hóa và nghệ thuật, được xem là đô thị văn minh bậc nhất bên bờ biển Baltic và không thua kém ǵ Paris hay London. Bản thân Catherine II là một nhà sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật giá trị trên thế giới.
Dưới triều đại của bà thành phần quan lại và giới quư tộc địa chủ được ưu đăi nhằm cai trị và khai thác lực lượng đông đảo nông nô tạo nên sức mạnh kinh tế của Đế chế. Các phong trào chống đối của nông nô bị đàn áp thẳng tay. Bà c̣n khống chế và làm suy yếu đi thế lực của Giáo quyền Chính thống giáo Nga bằng cách trưng thu phần lớn điền sản của Giáo hội.

Cung điện Mùa đông, cũng là Viện bảo tàng Hermitage nổi tiếng (lớn thứ nh́ Châu Âu và Thế giới)

Triều đại đáng để ư sau đó là của Nga hoàng Alexander I. Alexander I là một ông vua có bản lĩnh về ngoại giao nhưng không xuất sắc trong việc nội trị, tuy nhiên dưới thời kỳ cai trị của ông nước Nga đă đánh bại cuộc xâm lăng của Napoleon vào năm 1812 nhờ vào mùa đông khắc nghiệt và chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến” (“vườn không nhà trống”) của Thống chế Kutuzov. Chiến thắng này đă đưa tên tuổi ông đi vào lịch sử nước Nga.
Bước sang triều đại Nicolas I, Nga hoàng xây dựng mô h́nh Nhà nước cảnh-sát-trị và củng cố quyền lực của Vương triều Romanov bằng việc thành lập một cơ quan mật vụ đặc biệt, có thể xem như là tiền thân của cơ quan mật vụ Cheka (về sau đổi tên thành KGB) của chính quyền Bolshevik. Nicolas I cai trị với ba nguyên tắc: 1/ Chính thống giáo là tôn giáo quốc gia, 2/ Quyền cai trị của Nga hoàng là tuyệt đối, và 3/ Chủng tộc Nga là chủng tộc ưu tú được hưởng mọi ưu tiên trên các chủng tộc khác. Văn học và nghệ thuật phát triển mạnh dưới thời Nicolas I tạo ra những tên tuổi lừng danh thế giới như Fyodor Dostoyevsky (tác giả của “Anh em nhà Karamazov”), Aleksandr Pushkin (tác giả của nhiều thi phẩm được xem như thi ca cổ điển Nga), Leo Tolstoy (tác giả của “Chiến tranh và Ḥa b́nh”), nhạc sĩ Pyotr Tchaikovsky (tác giả của “Hồ thiên nga” và “Romeo và Juliet”) cùng nhiều tên tuổi khác.
Con trai ông, Nga hoàng Alexander II, là người xây dựng một chính quyền tương đối dân chủ và cởi mở, và là người đă giải phóng lực lượng 52 triệu nông nô (chiếm 45% dân số) ở nước Nga lúc bấy giờ.
Alexander II bị ám sát chết năm 1881, một phần do chính công cuộc cải tổ dân chủ của ông đă phấn khích các thành phần cách mạng ở nước Nga. Họ cho rằng cuộc cải tổ của ông chưa đủ sâu rộng. Con trai ông, Nga hoàng Alexander III phản ứng mạnh mẽ trước cái chết của cha: ông đảo ngược mọi thành quả của cải tổ dân chủ, củng cố lại chế độ cảnh sát trị, kiểm soát chặt chẽ báo chí và thông tin, tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế, đề cao vai tṛ của Chính thống giáo trong sinh hoạt quốc gia, đề cao tính ưu đẳng của chủng tộc Nga… Nhưng đă quá trễ. Làn gió cách mạng đă manh nha, mang vào nước Nga đang bị phân hóa trầm trọng những tư tưởng mới từ Châu Âu với những nhà cách mạng như Lenin, Plekhanov, Akselrod, Martov v.v… Sự tham chiến của Nga vào cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ I đă làm cho kinh tế nước Nga đang yếu kém và khủng hoảng lại càng thêm lụn bại, hàng loạt binh lính và sĩ quan bỏ hàng ngũ do bất măn, và họ trở nên thành phần ṇng cốt của cả hai cuộc Cách mạng nổ ra liên tiếp vào năm 1917, trước tiên là cuộc Cách mạng của những người tư sản Melshevik, và tiếp theo đó là cuộc Cách mạng Cộng sản của những người Bolshevik.

Tính thần bí trong văn hóa Nga bắt nguồn từ Chính thống giáo

NƯỚC NGA, NGƯỜI NGA, TÍNH CÁCH NGA
Đến thăm nước Nga, có hai nét nổi bật đập vào mắt du khách và gợi sự chú ư của chúng tôi: đó là tính bảo thủ của người Nga, và khả năng thiên bẩm cũng như sự yêu thích về văn học và nghệ thuật của họ. Cả ba thành phố chính mà chúng tôi đi qua là Moscow, Novgorod và St. Perterburg đều đầy dẫy những công tŕnh kiến trúc và di tích lịch sử - văn hóa - mỹ thuật được người Nga trân trọng và nghiêm túc giữ ǵn. Ông Trần Chính, người tour leader của chúng tôi, mô tả văn hóa Nga qua ba tính chất đặc thù: 1/ Tính vĩ đại, bắt nguồn từ thực tế lịch sử của dân tộc Nga, từ thời kỳ lập quốc, qua thời kỳ Đế chế, đến thời kỳ Cộng sản Xô-Viết; Dân tộc Nga vĩ đại kể cả trong tầm kích của những thảm kịch mà họ tự gây ra cho chính ḿnh, 2/ Tính thần bí, bắt nguồn từ Chính thống giáo phương Đông, và 3/ Tính trữ t́nh, bắt nguồn từ thiên nhiên bao la và tuyệt đẹp của nước Nga, khiến người Nga gần gũi và vô cùng yêu mến thiên nhiên đặc thù của đất nước ḿnh, và khiến văn hóa dân gian Nga chứa chan màu sắc thiên nhiên.
Chúng ta có thể nh́n thấy tính vĩ đại của người Nga qua đất nước rộng lớn mênh mông, với một dân tộc h́nh thành từ sự trộn lẫn của nhiều gịng máu và nhiều nền văn hóa, và tiêu biểu nhất là qua việc họ đă đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lăng trong hai thế kỷ liên tiếp: lần thứ nhất vào năm 1812 khi người Nga đánh bại Napoleon, và lần thứ hai từ 1941 đến 1945 khi Liên Xô đánh bại Hitler (trong khi gần như cả Châu Âu phải quỳ gối trước sức mạnh quân sự của Đế chế Napoleon và của Đức Quốc Xă), và qua sự kiện Liên Bang Xô-Viết trong suốt 45 năm, từ 1945 đến 1990, là trung tâm quyền lực thứ hai trên thế giới ngang ngửa với siêu cường Hoa Kỳ.
Dân tộc Nga đă từng “xuất cảng” chủ nghĩa Cộng sản ra thế giới, nhưng rồi cũng chính họ đă can đảm vượt thoát ra khỏi sự ràng buộc của chủ thuyết đó để ngày nay từng bước xây dựng một thể chế dân chủ cho nước Nga, và đó là mặt vĩ đại khác ở họ. Người Nga có đủ khôn ngoan để dứt khoát không quay trở lại chế độ độc tài đảng trị, bằng chứng là ông cựu tổng thống Vladimir Putin đă không tu chính Hiến pháp để có thể ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ thứ 3 vào năm 2008. Ông biết dân Nga cần ông và ủng hộ ông, nhưng trong khuôn khổ của Hiến Pháp ông đă khiêm tốn nhận chức thủ tướng để cùng với tân tổng thống trẻ tuổi Medvedev chung lo việc nước. Hệ thống truyền thông áp đảo của phương Tây thường chế nhạo ông Putin bằng cách mô tả ông hiện nay như là một tổng thống thật sự dưới cái vỏ thủ tướng, trong khi ông Medvedev chỉ là một h́nh nộm tổng thống. Tôi thiển nghĩ rằng cách nh́n đó không được công b́nh. Tại sao không xem chính sách của ông Putin là một h́nh thức chuẩn bị người lănh đạo tương lai cho nước Nga? (giống như ông Đặng Tiểu B́nh của Trung Quốc đă làm trước đây khi chọn ông Giang Trạch Dân là người kế tục ngay khi họ Đặng vẫn c̣n đang cầm quyền, sau đó ông Giang cũng lập lại việc chuẩn bị người lănh đạo tương lai cho Trung Quốc qua việc chỉ định ông Hồ Cẩm Đào làm người “học việc” một thời gian trước khi họ Giang rút lui khỏi các vị trí quyền lực).

[Chính Vladimir Putin là người đă được Boris Yeltsin chọn làm “người kế vị” (chữ của Yeltsin) khi ông này c̣n làm tổng thống. Trong 8 năm cầm quyền với tư cách tổng thống, và hiện nay với tư cách thủ tướng, ai cũng biết Putin là một nhà lănh đạo nửa dân chủ nửa độc tài. Dân chủ bởi v́ ông đắc cử hoặc được đề cử một cách hợp pháp và hợp hiến. Độc tài bởi v́ ông đă dùng những “đ̣n” không được dân chủ và mă thượng lắm để vô hiệu hóa những đối thủ chính trị của ḿnh. Đồng thời ông c̣n là một chính trị gia khôn khéo và bản lĩnh, bởi v́ ông rất giỏi chơi tṛ chơi dân chủ, ông biết lách luật và lách cả hiến pháp để thực hiện những việc ông muốn làm mà không ai có thể bắt lỗi ông được. Tuy nhiên Putin đă dành được sự tín nhiệm cao ở người dân Nga, bởi v́ sau 8 năm cầm quyền (2000-2008) ông đă thành công trong việc ổn định và phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân, chống tham nhũng một cách có hiệu quả, và bước đầu xây dựng một Nhà nước Pháp quyền. Và khi chấm dứt nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, ông đă không t́m cách tu chính Hiến Pháp để ra tranh cử lần thứ ba. Nhưng trước khi hết nhiệm kỳ, Putin đă không quên lập lại việc mà trước đây người tiền nhiệm của ông, tổng thống Yeltsin, từng làm, đó là chọn “người kế vị”. Phải chăng việc chọn người kế vị đă trở thành một truyền thống chính trị trong thể chế dân chủ non trẻ ở nước Nga? Theo thiển ư của tôi, không nên so sánh Nga với Tàu trong cùng một hiện tượng này, cũng như không nên so sánh Đặng Tiểu B́nh, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào với Yeltsin, Putin, Medvedev. Thứ nhất, bởi v́ Liên Bang Nga dù thế nào và dù ở mức độ nào chăng nữa cũng là một nền dân chủ, c̣n Trung Quốc th́ không. Thứ hai, bởi v́ ở bên Tàu sau khi thoái vị và nhường ngôi cho Hoàng đế mới, “người ra đi” thường chí thú lui về hậu trường làm Thái thượng hoàng (thực chất là làm bố Hoàng đế), trong khi ở Nga ông Putin, sau khi nhường ngôi cho Medvedev, lại bằng ḷng chỉ với cái ghế Tả Thái sư!]

Vladimir Putin: lạnh lùng nhưng có duyên

Bên cạnh đó, dân tộc Nga c̣n là tác giả của những tấn thảm kịch to lớn trong lịch sử mà chính họ là nạn nhân. Thí dụ gần đây nhất là thời kỳ cầm quyền với đường lối cai trị bạo hành của nhà độc tài Cộng sản Stalin. Dùng bộ máy công an mật vụ NKVD (tiền thân của cơ quan KGB) được huấn luyện thuần thục về kỹ thuật khủng bố và trấn áp tàn ác chưa từng thấy để tiến hành các cuộc Đại Thanh trừng (Great Purges) kéo dài từ năm 1929 cho đến khi ông qua đời vào năm 1953 (chỉ tạm ngưng trong những năm của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II khi Liên Xô bị tấn công), Stalin đă giết hại hàng triệu người đối lập chính trị (có thật cũng như tưởng tượng) và hàng ngàn đồng chí, đă tiêu diệt cả những tinh hoa của đất nước và dân tộc Nga, những thành phần ưu tú nhất trong quân đội cũng như trong các lănh vực khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật. Trụ sở chính của cơ quan mật vụ khét tiếng này nằm ngay giữa thủ đô Moscow, trên công trường Lubyanka (c̣n gọi là nhà tù Lubyanka), nơi tra tấn, hành quyết và thủ tiêu hàng trăm ngàn người dưới thời kỳ Stalin. Ṭa nhà khổng lồ này hiện nay vẫn c̣n được chính quyền Liên Bang Nga tiếp tục sử dụng làm trụ sở của cơ quan An ninh T́nh báo Trung Ương. Đối với tôi, người Nga không hề thấy lúng túng trước sự tồn tại và hiện diện của ḷ sát sinh Lubyanka ngay giữa thủ đô tráng lệ của họ là một điều thật khó hiểu nổi!

Ṭa nhà nh́n ra quảng trường Lubyanka là nhà tù ghê rợn nhất trong lịch sử Liên Bang Xô-Viết

Đến thăm nước Nga du khách không khỏi bỡ ngỡ trước thái độ nh́n chung là thiếu cởi mở của người Nga, nhất là ở các thành phố lớn. Đặc biệt trong lănh vực thương mại và dịch vụ, tuy sống trong một nền kinh tế thị trường nhưng đối với họ khách hàng không phải là trên hết, là ưu tiên một. Trong tiếp xúc, họ vẫn như cố giữ lại những ǵ của riêng họ. Họ ít tươi cười và không chịu khó học ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, để hội nhập với thế giới như dân chúng ở các nước Bắc Âu khác.

[Tôi c̣n nhớ, năm 2004, cô hướng dẫn viên ở St Petersburg giải thích với tôi “người Nga ở các thành phố lớn ít khi cười, nhưng không có nghĩa là họ thiếu cởi mở, cố t́nh làm ra vẻ lạnh lùng, hay không có thiện cảm với du khách ngoại quốc. Họ không cười v́ không ai bảo với họ rằng cười là một cách xă giao đắc nhân tâm, do đó họ không cảm thấy cần thiết lúc nào cũng phải cười”. Năm 2008, cô hướng dẫn viên ở Moscow lại giải thích khác (cô này th́ lúc nào cũng cười, đôi khi vừa cười vừa nói, có khi chưa nói đă cười) “tôi là người Bắc Ossetia, có nghĩa là người miền Nam nước Nga; Chúng tôi lúc nào cũng cười bởi v́ tươi cười là một phần trong văn hóa của người miền Nam chúng tôi, cười nhiều, cười cả ngày cũng không có vấn đề ǵ cả. Tôi c̣n nhớ khi mới chuyển đến sống ở Moscow, tôi rất ngạc nhiên khi thấy người ở thủ đô ít cười, về sau tôi mới hiểu ra rằng ở miền Bắc, người ta cho rằng tươi cười trong giao tiếp là giả dối, là bộc lộ ḿnh một cách quá trớn và không cần thiết. Người ở miền Bắc nước Nga chỉ cười với những ai họ xem là bạn, hoặc ít ra những ai họ biết rơ và tin cậy. Tóm lại, cười hay không cười, tất cả đều nằm trong văn hóa của mỗi địa phương”.
Tôi th́ nghĩ rằng người Nga lạnh lùng v́ đó là một phần trong di sản văn hóa Xô-Viết, vốn đă ăn sâu vào trong cá tính của họ. Muốn thay đổi cần phải có thời gian, những điều kiện kinh tế cũng như bối cảnh xă hội phù hợp.]

Dân chúng đi lại trên đường phố luôn giữ nét mặt nghiêm trang (nét mặt lạnh lùng đăm chiêu của cựu tổng thống Putin là một điển h́nh), nhân viên an ninh trật tự và cảnh sát công lộ luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng can thiệp vào mọi bất trắc có thể xẩy ra, dù là những bất trắc có thật hay chỉ trong tưởng tượng.
Cũng may chúng tôi được bù đắp lại với những khuôn mặt “xinh như mộng” của các cô thiếu nữ Nga. Thiếu nữ Nga (tôi không nói phụ nữ Nga) đẹp hơn thiếu nữ các nước Tây phương khác, kể cả thiếu nữ Pháp (vẫn được tiếng là đẹp) và thiếu nữ Mỹ. Thiếu nữ Nga có dáng vẻ gọn gàng, khuôn mặt họ ẩn chút huyền bí như muốn giấu kín lịch sử băo táp cùng những thảm kịch của một đất nước nằm giữa miền gió tuyết triền miên. Nét đẹp của thiếu nữ Nga trở thành kỷ niệm nổi bật khi du khách rời Nga sang Phần Lan và các nước khác trong vùng Scandivania và chạm mặt những cô gái trẻ tóc vàng, mắt xanh với khuôn mặt hơi thô và hoang dại. Nhưng nếu nói về phụ nữ Nga th́ khác hẳn. Nếu sắc đẹp của thiếu nữ nh́n chung là do dáng vẻ tự nhiên của họ, th́ sắc đẹp của phụ nữ phần nào phụ thuộc vào phấn son và hoàn cảnh sống. Theo tôi, phụ nữ Pháp không được ưa nh́n bằng phụ nữ Mỹ v́ phụ nữ Mỹ có điều kiện để “làm đẹp” hơn. Nhưng phụ nữ Nga th́ lại trông không được “gọn gàng” bằng phụ nữ Pháp.

[Chuyện đàn bà ghê gớm hơn chuyện chính trị, cho nên khó bàn hơn, một phần bởi v́ nó gắn liền với “khẩu vị” của từng người. Đúng là có nhiều du khách đến thăm nước Nga với tôi phát biểu rằng phụ nữ Nga rất đẹp, đặc biệt các thiếu nữ ở lứa tuổi 18-25 trông rất “hấp dẫn”! Thiếu nữ Nga mà chúng tôi nh́n thấy trên đường phố ở các thành thị, phần lớn đều có dáng cao và mảnh khảnh, chân dài, ngực đầy đặn. Gương mặt các cô th́ đa số trên trung b́nh, nhưng không thể nói là đẹp nhất nh́ Châu Âu được. Có hai điểm ở phụ nữ Nga mà tôi không thích lắm (lại cũng là “khẩu vị” riêng!), đó là: 1/ da của họ trắng quá, ở nhiều người gần như là trắng tái, nhợt nhạt, khiến cho khuôn mặt của họ thiếu vẻ đậm đà, và 2/ nhiều người tóc vàng (blonde) nhưng là màu vàng hơi “chóe”, hơi thô, và cũng không ít phụ nữ Nga có bộ tóc màu đỏ hung trông thật khiếp đảm (hay có thể là họ nhuộm tóc mà tôi không biết?). Nói một cách công bằng, tôi nghĩ rằng rừng bạch dương ở Nga đẹp nhất Châu Âu nếu so sánh với rừng bạch dương ở nhiều nước khác, nhưng phụ nữ Nga th́ chắc phải xếp hàng thứ ba thứ tư chứ không thể nhất nh́ Châu Âu được!]

Rừng bạch dương, nét đẹp trữ t́nh trong thiên nhiên của nước Nga

Nghề hướng dẫn du lịch thường tránh né chuyện chính trị. Tại Trung Quốc và Châu Âu những hướng dẫn viên địa phương (local guide) thường tự giới hạn ḿnh trong việc giới thiệu đất nước, địa phương hay thành phố của họ với du khách và khéo léo tránh mọi câu hỏi liên quan đến chính trị dù là những chuyện chính trị rất tổng quát. Ngược lại ở Nga, người hướng dẫn du lịch Nga không hề ngần ngại nói chuyện thời sự, và qua việc giới thiệu đất nước và văn hóa Nga, họ sẵn sàng hùng hồn bênh vực các chính sách quốc gia của chính phủ họ nếu như họ đồng t́nh với các chính sách ấy. Không giống như ở Trung Quốc, họ có quyền tự do phát biểu ư kiến riêng của họ, nhưng phần lớn họ có tinh thần dân tộc rất cao cho nên dễ bị hiểu lầm là bị “nhồi sọ” như những đồng nghiệp của họ tại các quốc gia không thật sự có tự do ngôn luận.
Lúc chúng tôi đang ở Nga, sự kiện Nga tấn công Georgia v́ tranh chấp vùng Nam Ossetia đang là đề tài thời sự nóng bỏng. Cô hướng dẫn viên địa phương, dù luôn tươi cười và nhă nhặn, đă hùng hồn biện minh cho quyết định can thiệp bằng quân sự vào Georgia của chính phủ Medvedev-Putin. Cô cho rằng trong thập niên 1990, phương Tây – ám chỉ Hoa Kỳ – đă lợi dụng t́nh h́nh Liên Bang Xô-Viết sụp đổ để ép Liên Bang Nga vào tư thế của một quốc gia tùng phục Hoa Kỳ và phương Tây.
Họ nghĩ rằng, NATO vốn là một liên minh quân sự do Hoa Kỳ chủ xướng và đứng đầu nhằm chống lại Liên Bang Xô-Viết trong thời kỳ chiến tranh lạnh, vậy th́ sau khi Liên Xô sụp đổ Hoa Kỳ không có lư do ǵ để phải mở rộng thêm NATO bằng việc thu nhận các nước vốn là chư hầu của Liên Xô hoặc từng là thành phần cũ của Liên Xô, nếu không phải là nhằm bao vây Liên Bang Nga hiện nay. Họ cho rằng Hoa Kỳ và Tây Âu vốn đứng sau lưng bao nhiêu biến cố chính trị khác như cuộc “cách mạng hồng” năm 2003 tại Georgia, “cách mạng cam” năm 2005 tại Ukraine… , với mục đích chặt cánh của Liên Bang Nga. Những người hướng dẫn du lịch Nga cho rằng cuộc tấn công vào Georgia tháng 8, 2008 là lời cảnh cáo cần thiết v́ uy tín quốc gia.
Tại thành phố Novgorod, một trong những đô thị cổ xưa nhất nước Nga, cô hướng dẫn không ngớt lời ca tụng thủ tướng Putin đă bỏ công sức và đích thân chỉ đạo vụ việc “làm sạch” chính quyền và xă hội tại thành phố này khi ông c̣n là tổng thống. Nghe cô nói, tôi có cảm tưởng rằng dù thế giới nh́n ông Putin như một cựu sĩ quan trong nghành mật vụ KGB, và là người có khuynh hướng độc tài, nhưng người Nga th́ không nghĩ như vậy. Đương nhiên họ không hoàn toàn thuyết phục được chúng tôi nhưng phải công nhận họ có lư phần nào khi có thái độ bất măn đối với phương Tây vốn chỉ chờ dịp để chèn ép nước Nga.

Veliky-Novgorod, cái nôi của Chính thống giáo Nga vào thời kỳ Trung Cổ

DI SẢN CỦA QUÁ KHỨ
Dù sao người Nga vẫn mang ở trong họ một cái ǵ đó huyền bí, khó hiểu, với gương mặt trầm tư, ít khi cười, và nếu cười th́ cũng cười nửa miệng thôi. Chúng tôi chỉ gặp được những nụ cười thật sự thoải mái, hồn nhiên tại vùng nông thôn Nga khi ông Trần Chính đưa chúng tôi vào thăm một số làng quê (trước đây là làng nông trang, kolkhoz, nay đă được tư hữu hóa) trên con đường “thiên lư” từ Moscow qua Novgorod đến St. Petersburg. H́nh như người Nga vẫn chưa vượt qua được trạng thái khủng hoảng tinh thần của 70 năm sống dưới chế độ Cộng sản mà nặng nề nhất là 24 năm cầm quyền đẫm máu của Stalin (1929-1953) khi ông thi hành chính sách tận diệt đồng chí nhằm độc chiếm quyền lực.
Với mục đích bành trướng đế quốc, người Anh, Bỉ, Đức… từng thi hành những chính sách tàn bạo đối với các dân tộc khác (Anh với những trại tập trung ở Transvaal, ở Kenya, trên đảo Andaman; Vua Leopold II của Bỉ giết hàng triệu người Congo; Hitler giết hàng triệu người Do thái mà ông xem la hạ đẳng…), nhưng trong lịch sự loài người trước Stalin chưa từng có nhà độc tài nào giết hại chính đồng bào của ḿnh một cách có hệ thống như Stalin đă làm, trong số đó là hầu hết tướng lănh và sĩ quan trong quân đội Xô-Viết, là những đồng chí vô tội của ông trong Đảng và chính phủ Liên Xô, và cả những chuyên viên ưu tú của đất nước gồm bác sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ, đó là chưa kể hàng triệu người thuộc tầng lớp phú nông (kulak) mà ông đă bức hại và đày ải cùng với gia đ́nh họ.
Hơn nũa Stalin đă nhúng tay vào tội ác với sự tiếp tay của một số đồng chí thân cận mà cho đến nay các học giả ở phương Tây vẫn đánh giá là những chính trị gia lỗi lạc của Liên Bang Xô-Viết như Khrushchev, Molotov, Kaganovich, Voroshilov… Ba nhân vật sau này đă từng kư hàng ngàn bản án tử h́nh đối với các đồng chí của ḿnh, căn cứ vào những lời “nhận tội” hoặc tố cáo lẫn nhau một cách bừa băi do bị tra tấn nhục h́nh và bị khủng bố bởi những “đồ tể” của cơ quan mật vụ NKVD như Agranov, Yezhov, Beria…

[Lời hay ư đẹp của ba nhân vật đồ tể nói trên (cả ba đều là những công cụ giết người tuyệt đối trung thành với Stalin, và số phận của cả ba đều kết thúc giống như nhau: bị Stalin kết tội và hành quyết): “Sự chống phá Cách mạng tất yếu đưa đến bạo lực và khủng bố Cách mạng” (Nikolai Yezhov); “Nếu không t́m ra kẻ thù của Cách mạng th́ phải bịa ra nó, tố cáo nó và trừng trị nó” (Yakov Agranov); “Bất cứ ai dù chỉ có ư định đưa tay lên chống lại Cách mạng, chống lại Đảng của Lenin và Stalin cần phải bị nghiền nát và tiêu diệt không thương tiếc” (Lavrenti Beria). Xin được miễn b́nh luận!]

Can đảm tự xét lại ḿnh và nh́n nhận tội lỗi (hay bị truy tố trước công luận) là phương thuốc nhằm t́m lại b́nh an trong tâm hồn cho một cá nhân, hay t́m lại cân bằng và ổn định tâm lư cho một tập thể quốc gia hay dân tộc. Ṭa án Nuremburg và ṭa án Tokyo do Đồng Minh thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ II để xử các tội phạm chiến tranh Quốc-xă Đức và quân phiệt Nhật đă phần nào giúp cho hai dân tộc Đức và Nhật t́m lại sự cân bằng về tâm lư cũng như b́nh an trong tâm hồn sau những tội lỗi ghê gớm mà họ đă gây ra cho biết bao dân tộc khác trong chiến tranh. Riêng dân tộc Nga th́ chưa bao giờ thật sự công khai đối diện với những tội lỗi do Stalin gây ra. Sau khi Stalin nằm xuống một thời gian, Beria và đồng bọn đồ tể của ông đă bị đưa ra xét xử và hành quyết, rồi sau đó vào năm 1956 Khrushchev đă tố cáo những sai lầm của Stalin trước Đại hội thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhưng cả hai sự kiện trên đều bắt nguồn từ những tranh chấp và thanh toán lẫn nhau trong nội bộ Đảng (trường hợp Beria), hoặc nhằm tạo vây cánh và củng cố quyền lực cá nhân (trường hợp Khrushchev), chứ tập thể Đảng chưa bao giờ công khai nh́n nhận sai lầm và tội ác to lớn của ḿnh, cũng như chưa bao giờ bày tỏ thái độ ăn năn hối lỗi về những tội ác ấy.
Ở Nga cho đến bây giờ vẫn chưa hề có phong trào công khai luận tội Stalin ở cấp quốc gia. Những tội ác của ông vẫn nằm yên đó, và giới cầm quyền cũng như dân chúng Nga vẫn nh́n thấy nơi Stalin một con người “vĩ đại” đă làm cho thế giới phải nể sợ nước Nga. Tinh thần quốc gia cực đoan đă vô t́nh che mắt người Nga trước những sai lầm to lớn của một số nhà lănh đạo của họ trong quá khứ, đồng thời cản trở họ ghi nhận việc làm đúng từng bị lên án của một số nhân vật khác.

[Đối với các nhà sử học phương Tây, Stalin là một hiện tượng rất đặc biệt không chỉ trong lịch sử của phong trào Cộng sản thế giới, mà c̣n cả trong lịch sử nước Nga và lịch sử nhân loại. Không ai có thể bào chữa cho những tội ác của ông đối với dân tộc Nga và văn hóa Nga trong suốt những năm ông cầm quyền, đặc biệt trong chính sách tập thể hóa nông nghiệp với những biện pháp vô cùng thô bạo, và trong những cuộc thanh trừng chính trị đẫm máu do chính ông phát động và trực tiếp chỉ đạo thực hiện khiến cho hàng triệu người bị bức hại (tra tấn, tù đày và hành quyết). Thậm chí những di hại do chính sách cai trị bằng bạo lực và khủng bố của ông vẫn c̣n tồn tại nhiều năm sau khi ông đă qua đời. Nhưng bên cạnh đó, người Nga vẫn dành cho Stalin một thái độ công bằng: họ nh́n nhận ông là người có công lớn trong việc lănh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Phát-xít Đức (mà ở Nga người ta gọi là “cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”, 1941-1945). Nhiều người Nga nói với tôi “có sống ở Liên Xô trong những năm khốc liệt của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II mới hiểu được hết cái giá mà người dân Xô-Viết đă phải trả trong cuộc chiến tranh ấy”. Nhưng tội ác là tội ác, đặc biệt tội ác đối với con người, cho dù tội ác ấy nằm trong phạm vi của bất kỳ chế độ chính trị hay giai đoạn lịch sử nào. Tội ác của Stalin rất lớn, nhưng công trạng của ông cũng không nhỏ, và điều này hơn ai hết chỉ có người Nga là có thể đo lường để đánh giá một cách đúng mức.]

Stalin, gương mặt "đồ tể" khát máu nhất trong lịch sử Nhân loại

Sau công cuộc Cải tổ Perestroika của ông Gorbachev dẫn đến việc giải thể chế độ Mác Xít tại Liên Xô vào năm 1991, người Nga đă có can đảm và quyết tâm dân chủ hóa nước Nga, dần dần xây dựng một Nhà nước pháp quyền, một quốc gia thật sự sinh hoạt trong khuôn khổ Hiến pháp. Ngoài ra, người Nga cũng đă can đảm vất bỏ lá cờ đỏ búa liềm để thay thế nó bằng lá cờ nguyên thủy của nước Nga trước cuộc Cách mạng Cộng sản năm 1917, đă can đảm trả lại tên St. Petersburg cho cố đô lịch sử xinh đẹp của triều đại Romanov do Peter Đại Đế của họ xây dựng mà sau đó những người Bolshevik đă áp đặt cái tên Leningrad – “thành phố của Lenin”, nhà cách mạng đă đẩy nước Nga ch́m đắm vào gần một thế kỷ của thảm họa Cộng sản.
Du khách đến thăm nước Nga đều có cùng một nhận xét: người Nga vẫn c̣n mang một mối giận hờn đối với Mikhail Gorbachev v́ họ cho rằng những bước cải tổ quá nhanh, quá mạnh của ông đă khiến cho nước Nga mất đi vị trí siêu cường cùng với Hoa Kỳ vào thời kỳ Xô-Viết, và giờ đây rơi xuống vị trí của một quốc gia hạng hai, hạng ba bị phương Tây coi thường và chèn ép. Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1996, ông Gorbachev không đạt được nổi 1% số phiếu bầu của dân Nga!
Theo thiển ư của tôi, Mikail Gorbachev xứng đáng là một vĩ nhân không phải chỉ riêng đối với dân tộc Nga mà c̣n đối với cả nhân loại. Cũng có thể người Nga biết điều đó, nhưng có lẽ ông Gorbachev c̣n phải chờ đợi, chờ cho đến khi Liên Bang Nga lấy lại được phong độ của một siêu cường, ít ra là ở Châu Âu, lúc bấy giờ họ sẽ công nhận công trạng vĩ đại của ông và sẽ cùng với thế giới phong thánh ông.
Đến thăm nước Nga trong một thời gian ngắn, du khách không khỏi có cảm tưởng rằng người Nga có thái độ bài ngoại. Nhưng thật ra cả kho tàng lịch sử và văn hóa của dân tộc Nga lại nói lên một điều khác. Trong quá khứ, sau khi thống nhất quốc gia, mang mặc cảm là một dân tộc lạc hậu so với các cường quốc Âu Châu lúc bấy giờ, người Nga đă chủ động du nhập và học tập lối sống của Châu Âu. Catherine II, nữ Hoàng đế lỗi lạc của vương triều Romanov, vốn là người gốc Đức, đă cho nhập cảng một cách có chọn lựa văn minh văn hóa Âu Châu vào nước Nga dưới triều đại của bà. Tiếng Pháp từng một thời là ngôn ngữ thông dụng và được trọng vọng trong triều đ́nh Nga, và kho tàng văn hóa nghệ thuật Nga đầy ắp ảnh hưởng của Anh, Đức, Pháp, Ư. Tôn giáo của người Nga là Chính thống giáo gốc Hy Lạp đă được người Nga du nhập từ Đế quốc La-mă phương Đông.

Nhà thờ Chúa Cứu Thế ở Moscow là biểu tượng của nước Nga phục sinh sau thảm kịch Cộng sản

Có thể nói rằng người Nga là một dân tộc nhiều t́nh cảm, sống theo chủ nghĩa định-mệnh (fatalism), yêu thích văn chương và nghệ thuật, yêu mến và gắn bó với thiên nhiên rộng lớn bao la của đất nước họ. Nhưng điểm nổi bật trên hết ở họ là sự tự hào dân tộc.
Đoàn du lịch chúng tôi rời nước Nga bằng đường bộ qua biên giới Nga - Phần Lan. Thủ tục xuất cảnh ở nước Nga khá chặt chẽ. Chúng tôi phải xuống xe đi bộ qua cửa khẩu để được đóng dấu “xuất cảnh” vào sổ thông hành, và khi trở lại xe coach chúng tôi gặp một nhân viên di trú (immigration) Nga vận quân phục đứng ngay cửa xe để kiểm soát sổ thông hành của từng người xem có đủ hai con dấu “nhập, xuất” không với một nét mặt vô cùng nghiêm trang.
Ai cũng thở phào nhẹ nhơm khi đặt chân vào đất Phần Lan, giống như vừa đi ra khỏi một bầu trời thiếu không khí, mặc dù chúng tôi đều biết rằng cảm giác đó nặng về tâm lư hơn là có cơ sở thực tế, bởi v́ với tư cách là khách du lịch theo đoàn, rơ ràng chúng tôi không có ǵ để phải lo sợ!
Tôi hiểu những ǵ đă khiến người Nga ngày hôm nay có thái độ thiếu tự tin đồng thời ít ḷng tin đối với thế giới bên ngoài như vậy. Họ đang trên con đường đi t́m một nền dân chủ phù hợp với điều kiện và tính cách của họ. Họ đang phải cố gắng vượt qua tâm lư nặng nề và tŕ trệ của thời bao cấp để bước vào sinh hoạt kinh tế thị trường. Đồng thời họ cũng đang đi t́m lại cái “vang bóng một thời” của họ. Trân trọng nhu cầu và tâm lư dân tộc đó của người Nga, thế giới Tây phương chắc chắn sẽ t́m thấy nơi nước Nga một đồng minh tốt và tin cậy được. Một dân tộc bị định mệnh d́m sâu vào tấn thảm kịch của chế độ độc tài Cộng sản gần một thế kỷ khiến người Nga giết hại lẫn nhau, mà vẫn có khả năng vượt thoát ra khỏi sự ràng buộc của ṿng kim cô quái ác đó để ḥa giải dân tộc và hướng về một tương lai của dân chủ và thịnh vượng hẳn không phải là một dân tộc tầm thường. Chính nền văn hóa rực rỡ với những thành tựu to lớn về nhiều mặt của nước Nga qua các giai đoạn lập quốc, thống nhất quốc gia, xây dựng Đế chế phong kiến, mà một phần di sản của nó vẫn c̣n được trân trọng giữ ǵn trong các viện bảo tàng là chứng minh hùng hồn cho tiềm năng mạnh mẽ về tinh thần đó của dân tộc Nga.
Chấm dứt những ngày du lịch ngắn ngủi thăm Liên Bang Nga, tôi rời nước Nga với niềm xác tín rằng bước vào thế kỷ thứ 21, nền ḥa b́nh thế giới, ít ra là đến giữa thế kỷ hiện nay, lệ thuộc một phần vào chính sách của Hoa Kỳ đối với nước Nga trong những năm tháng tới.

(Bốn tháng mười, hai ngàn lẻ tám)
TRẦN B̀NH NAM.

 

 

salade espresso
destinations
hot news
 

Copyright©2009VoyagesSaigonInc. All rights reserved